Nợ xấu tăng, chuyên gia nói gì về chất lượng lợi nhuận tại các ngân hàng?

Trang Mai 14:41 | 21/08/2026 Doanh Nhân Việt Nam trên Doanh Nhân Việt Nam trên
Chia sẻ
BCTC quý II/2026 cho thấy nhiều ngân hàng trong hệ thống tiếp ghi nhận lợi nhuận tăng tích cực. Tuy vậy, tỷ lệ nợ xấu bình quân tại 27 ngân hàng niêm yết tiếp tục tăng lên mức 2,01%, cao nhất kể từ quý II/2020.

 

Lợi nhuận tăng nhờ NIM cải thiện

Trong báo cáo ngành ngân hàng công bố gần đây, Chứng khoán SSI Research cho biết, tổng lợi nhuận trước thuế của các ngân hàng trong phạm vi theo dõi trong quý II/2026 đạt 95,7 nghìn tỷ đồng, tăng 27,6% so với cùng kỳ và tăng 20,3% so với quý trước nhờ NIM phục hồi, thu nhập ngoài lãi cải thiện và hiệu quả vận hành tốt hơn. Tuy nhiên, tỷ lệ nợ xấu cũng tăng lên 1,97%, mức cao nhất kể từ quý II/2020, trong khi tỷ lệ bao phủ nợ xấu giảm còn 83%. 

 

Tại Data Talk | Market Insight tối 20/8 do công ty dữ liệu - tài chính WiGroup và VIF đồng sản xuất, bà Lương Bội San, Phụ trách Research nhóm Ngân hàng, CTCP Xếp hạng tín nhiệm S&I (S&I Ratings) cho rằng, một trong những động lực quan trọng giúp lợi nhuận ngành ngân hàng tăng trưởng trong quý II nằm ở sự phục hồi NIM. Sau giai đoạn chịu áp lực trong năm trước, NIM toàn ngành quý II/2026 đã cải thiện so với quý đầu năm.

Bà Lương Bội San, Phụ trách Research nhóm Ngân hàng, CTCP Xếp hạng tín nhiệm S&I (S&I Ratings) chia sẻ tại talk show. Ảnh: BTC.

Một phần nguyên nhân đến từ việc nhiều khoản vay, đặc biệt là vay mua nhà, kết thúc thời gian ưu đãi và chuyển sang lãi suất thả nổi. Mặt bằng lãi suất ở một số khoản vay có thể lên khoảng 12-15%, giúp lợi suất tài sản của ngân hàng tăng lên trong ngắn hạn.

Tuy nhiên, theo bà Sang, đây cũng là yếu tố cần nhìn theo hai chiều. Lãi suất cho vay tăng giúp cải thiện thu nhập lãi trong hiện tại, nhưng nếu kéo dài có thể làm gia tăng áp lực trả nợ của khách hàng, nhất là nhóm vay mua nhà và khách hàng bán lẻ.

Bên cạnh NIM, thu nhập ngoài lãi cũng đóng góp đáng kể vào kết quả kinh doanh. Thu nhập từ phí và các hoạt động dịch vụ có sự cải thiện rõ rệt, giúp nhiều ngân hàng giảm bớt phụ thuộc vào nguồn thu tín dụng.

Với các ngân hàng sở hữu hệ sinh thái chứng khoán, bảo hiểm, ngân hàng đầu tư hoặc quản lý tài sản, dư địa tạo doanh thu ngoài lãi càng lớn. Những hệ sinh thái như TCBS của Techcombank, VPBankS hay các công ty chứng khoán liên quan tới các ngân hàng đang trở thành nguồn bổ sung doanh thu đáng kể trong bối cảnh biên lãi từ hoạt động tín dụng chịu nhiều sức ép.

Một yếu tố khác là hiệu quả hoạt động được cải thiện. Tỷ lệ chi phí trên thu nhập giảm giúp phần tăng trưởng doanh thu được chuyển hóa tốt hơn thành lợi nhuận trước dự phòng.

Đây là lý do giải thích vì sao lợi nhuận ngân hàng vẫn có thể tăng ngay cả khi nợ xấu đi lên.

 

Nợ xấu tăng nhưng tác động chưa phản ánh toàn bộ ngay vào lợi nhuận

Theo ông Đỗ Thanh Tùng, Trưởng phòng cao cấp Trung tâm Phân tích, Chứng khoán Rồng Việt (VDSC), cần phân biệt giữa việc nợ xấu phát sinh và thời điểm phần rủi ro đó thực sự đi vào báo cáo kết quả kinh doanh.

 Ông Đỗ Thanh Tùng, Trưởng phòng cao cấp Trung tâm Phân tích, Chứng khoán Rồng Việt (VDSC). Ảnh: BTC. 

Nợ xấu tăng không có nghĩa toàn bộ khoản tăng đó phải lập tức được ghi nhận thành chi phí trong cùng quý. Mức độ ảnh hưởng còn phụ thuộc vào việc phân loại nợ, tài sản bảo đảm, lượng dự phòng đã được trích từ trước, khả năng thu hồi nợ và tiến độ xử lý từng khoản vay.

Đây là một trong những yếu tố tạo ra độ trễ giữa chất lượng tài sản và lợi nhuận.

Theo phân tích được trình bày tại Data Talk | Market Insight, quy mô nợ xấu hình thành ròng có thời điểm cao hơn số tiền các ngân hàng dành để trích lập dự phòng. Điều này có nghĩa tốc độ phát sinh rủi ro tín dụng có thể đang nhanh hơn tốc độ bổ sung bộ đệm.

Trong ngắn hạn, việc chưa phải phản ánh toàn bộ chi phí dự phòng giúp lợi nhuận vẫn duy trì mức cao. Nhưng nếu nợ xấu tiếp tục tăng, áp lực có thể được chuyển sang các quý sau.

Vì vậy, theo ông Tùng, nhà đầu tư không nên nhìn riêng con số lợi nhuận mà cần xem xét lợi nhuận đó đang được tạo ra trong bối cảnh chất lượng tài sản như thế nào.

Một chỉ tiêu được cả hai chuyên gia đặc biệt lưu ý là nợ nhóm 2, tức các khoản nợ cần chú ý.

Nếu nợ xấu phản ánh những khoản vay đã bước vào trạng thái rủi ro rõ ràng hơn, nợ nhóm 2 có thể xem là lớp tín hiệu xuất hiện sớm hơn.

Khi nợ nhóm 2 tăng liên tục trong nhiều quý, điều đó cho thấy số khách hàng bắt đầu gặp khó khăn trong việc trả nợ đúng hạn đang nhiều lên. Một phần những khoản vay này có thể chuyển thành nợ xấu nếu khả năng tài chính của khách hàng không được cải thiện.

Trong bối cảnh lãi suất vay mua nhà và vay tiêu dùng ở mức cao, áp lực này càng đáng lưu ý ở nhóm khách hàng cá nhân.

Theo bà Lương Bội Sang, đây cũng là một trong những lý do cần thận trọng với triển vọng chất lượng tài sản trong nửa cuối năm 2026, dù lợi nhuận ngành ngân hàng vẫn được kỳ vọng tăng trưởng.

Bên cạnh diễn biến của nợ xấu và nợ nhóm 2, các chuyên gia tại chương trình cho rằng lãi dự thu cũng là chỉ tiêu cần được theo dõi khi đánh giá chất lượng lợi nhuận của ngân hàng.

Về bản chất, đây là phần lãi đã được ngân hàng ghi nhận vào thu nhập theo nguyên tắc kế toán nhưng chưa thực sự thu về bằng tiền. Khoản mục này vẫn phát sinh bình thường trong hoạt động tín dụng, song sẽ trở thành tín hiệu đáng lưu ý nếu tăng nhanh trong thời gian dài, đặc biệt khi tốc độ tăng vượt xa dư nợ tín dụng hoặc thu nhập lãi.

Theo bà Lương Bội Sang, rủi ro cần được quan sát kỹ hơn ở các khoản cho vay hạ tầng, xây dựng và những dự án có thời gian triển khai dài. Với nhóm này, ngân hàng có thể ghi nhận thu nhập trước khi dòng tiền thực tế từ dự án hình thành đầy đủ.

Trong trường hợp dự án chậm tiến độ hoặc dòng tiền của khách hàng không đạt kỳ vọng, phần lãi đã ghi nhận trước đó có thể phải thoái thu, qua đó gây áp lực trực tiếp lên lợi nhuận ở các kỳ sau. Vì vậy, lợi nhuận tăng cao chưa hẳn đồng nghĩa với chất lượng lợi nhuận tốt nếu đi kèm với mức tăng mạnh và kéo dài của lãi dự thu.

Theo các chuyên gia, nợ xấu tăng chưa đủ để kết luận một ngân hàng đang "yếu" đi. Trong một số trường hợp, đây có thể là kết quả của việc chủ động nhận diện khoản vay có vấn đề, chuyển nhóm nợ và tăng trích lập để làm sạch bảng cân đối.

Dấu hiệu tích cực là sau giai đoạn tăng dự phòng, nợ nhóm 2 giảm, tốc độ hình thành nợ xấu chậm lại và tỷ lệ bao phủ được cải thiện. Ngược lại, nếu nợ xấu và nợ nhóm 2 cùng tăng, trong khi tỷ lệ bao phủ liên tục giảm và lãi dự thu phình lên, rủi ro chất lượng tài sản đáng lo ngại hơn.

Theo ông Đỗ Thanh Tùng, tỷ lệ bao phủ nợ xấu giảm trong một vài quý chưa hẳn là tín hiệu nghiêm trọng, nhưng nếu kéo dài sẽ cho thấy bộ đệm dự phòng đang mỏng đi. Vì vậy, điểm khác biệt nằm ở cách ngân hàng xử lý nợ xấu: chấp nhận hy sinh lợi nhuận để tăng dự phòng, hay trì hoãn chi phí và để rủi ro dồn sang các kỳ sau.