Nguồn lực cho tăng trưởng bền vững: Việt Nam cần tái thiết kế cấu trúc vốn

Trang Mai 15:22 | 14/04/2026 Doanh Nhân Việt Nam trên Doanh Nhân Việt Nam trên
Chia sẻ
Khi nhu cầu vốn trung và dài hạn ngày càng lớn, mô hình tăng trưởng dựa chủ yếu vào tín dụng ngân hàng đang bộc lộ giới hạn. Theo chuyên gia, Việt Nam cần một cấu trúc vốn đa tầng để tạo nền tảng cho mục tiêu tăng trưởng nhanh và bền vững.

Tại hội thảo “40 năm Đổi mới: Phát triển tập đoàn kinh tế Việt Nam” do Tạp chí Nhà đầu tư tổ chức ngày 13/4, bà Phạm Thị Thanh Tùng, Phó Vụ trưởng Vụ Tín dụng các ngành kinh tế, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cho biết, hệ thống ngân hàng sẽ tiếp tục đóng vai trò cung ứng vốn cho nền kinh tế. Tuy vậy, về dài hạn, Việt Nam không thể tiếp tục phụ thuộc quá lớn vào tín dụng ngân hàng nếu muốn phát triển bền vững.

 Bà Phạm Thị Thanh Tùng, Phó Vụ trưởng Vụ Tín dụng các ngành kinh tế, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam. Ảnh: BTC. 

Theo bà Tùng, để hình thành các tập đoàn đủ sức dẫn dắt nền kinh tế, yếu tố then chốt là phải có nguồn vốn trung và dài hạn đủ mạnh, ổn định và được phân bổ hiệu quả. Trong khi đó, cấu trúc vốn hiện nay vẫn chủ yếu dựa vào tín dụng ngân hàng, vốn thiên về ngắn và trung hạn, chưa phù hợp với nhu cầu đầu tư dài hạn của doanh nghiệp.

Thời gian qua, hệ thống ngân hàng đã liên tục hoàn thiện khung pháp lý nhằm vừa hỗ trợ tăng trưởng, vừa bảo đảm an toàn hệ thống. Việc ban hành Luật Các tổ chức tín dụng 2024 cùng quá trình sửa đổi, bổ sung trong năm 2025 đã làm rõ hơn các nghiệp vụ cấp tín dụng, đồng thời mở đường cho các hình thức cấp vốn mới như cấp tín dụng qua phương tiện điện tử hay các khoản vay nhỏ với thủ tục đơn giản hơn.

Song song với đó, các quy định về tỷ lệ an toàn, giới hạn cấp tín dụng và kiểm soát nội bộ cũng được siết chặt hơn, tạo điều kiện để ngân hàng mở rộng tín dụng nhưng vẫn giữ được khả năng kiểm soát rủi ro. Điều này đặc biệt quan trọng trong bối cảnh nhu cầu vốn của nền kinh tế tăng mạnh.

Dòng vốn ngân hàng hiện cũng đang được phân bổ khá đồng đều giữa các khu vực kinh tế. Đến cuối năm 2024, tổng dư nợ tín dụng toàn hệ thống đạt khoảng 18,17 triệu tỷ đồng, tăng hơn 19% so với năm trước. Trong đó, tín dụng dành cho doanh nghiệp chiếm khoảng 48%, còn tín dụng cho cá nhân, hộ gia đình và hộ kinh doanh vào khoảng 46%.

Ngoài ra, các lĩnh vực ưu tiên cũng chiếm tỷ trọng đáng kể, trong đó nông nghiệp và nông thôn khoảng 23%, doanh nghiệp nhỏ và vừa khoảng 20%. Những số liệu này cho thấy tín dụng ngân hàng không chỉ chảy vào các tập đoàn lớn mà còn lan tỏa tới nhiều khu vực khác nhau của nền kinh tế.

Tuy nhiên, một vấn đề đáng lưu ý là tốc độ tăng trưởng tín dụng đang vượt tốc độ huy động vốn. Cuối năm 2024, tín dụng tăng 19,07% trong khi huy động vốn chỉ tăng khoảng 14,5%. Đến cuối quý I năm nay, tín dụng tăng khoảng 2,45% nhưng huy động mới tăng khoảng 0,31%.

Chênh lệch này tạo áp lực thanh khoản lên hệ thống ngân hàng, đồng thời cho thấy mô hình tăng trưởng quá phụ thuộc vào tín dụng đang bộc lộ rủi ro. Nếu tình trạng này kéo dài, hệ thống tài chính có thể đối mặt với những biến động lớn trong tương lai.

Vì vậy, bên cạnh tín dụng ngân hàng, Việt Nam cần thúc đẩy mạnh hơn sự phát triển của thị trường vốn, đặc biệt là thị trường trái phiếu doanh nghiệp, các quỹ đầu tư và những mô hình huy động vốn linh hoạt hơn.

Cân bằng giữa vốn nợ và vốn chủ sở hữu

Bà Nguyễn Thúy Hạnh, Tổng Giám đốc Standard Chartered Việt Nam, cho rằng Việt Nam cần tái thiết kế cấu trúc vốn theo hướng hài hòa hơn giữa vốn chủ sở hữu và vốn nợ.

Theo bà Hạnh, nhu cầu vốn trong giai đoạn 2026 - 2030 được ước tính vào khoảng 38 triệu tỷ đồng, trong khi khu vực Nhà nước chỉ có thể đáp ứng khoảng 8,5 triệu tỷ đồng. Điều đó đồng nghĩa phần lớn nguồn lực sẽ phải đến từ khu vực tư nhân, thị trường vốn và dòng vốn quốc tế.

Ở góc độ vốn chủ sở hữu, một trong những giải pháp quan trọng là tiếp tục đẩy mạnh cổ phần hóa và thoái vốn Nhà nước, đồng thời thúc đẩy tái cấu trúc doanh nghiệp gắn với thị trường chứng khoán. Đây không chỉ là nguồn vốn có chất lượng cao mà còn góp phần nâng chuẩn quản trị doanh nghiệp.

Bên cạnh đó, Việt Nam cũng cần thu hút mạnh hơn dòng vốn FDI thông qua các thương vụ private equity, hướng tới những nhà đầu tư dài hạn có thể đồng hành chiến lược với doanh nghiệp trong nước. Khi thị trường chứng khoán được nâng hạng, dư địa đón dòng vốn quốc tế cũng sẽ rộng mở hơn.

Một nguồn lực quan trọng khác là vốn trong dân cư. Hiện nay, vẫn còn một lượng lớn tài sản nằm trong vàng hoặc các kênh tiết kiệm chưa được đưa vào sản xuất kinh doanh. Nếu có thể khơi thông hiệu quả nguồn lực này, khu vực kinh tế tư nhân sẽ có thêm đáng kể dư địa tăng trưởng.

Ở phía vốn nợ, bà Hạnh cho rằng cấu trúc hiện nay vẫn mất cân đối khi khoảng 80% là vốn ngắn hạn, trong khi nền kinh tế lại cần nhiều hơn các nguồn vốn trung và dài hạn. Do đó, phát triển thị trường trái phiếu doanh nghiệp và mở rộng nền nhà đầu tư tổ chức sẽ là yếu tố then chốt để hình thành nguồn vốn dài hạn ổn định.

Một hướng đi khác là phát triển tài trợ chuỗi, qua đó kết nối nguồn vốn từ ngân hàng, doanh nghiệp và dòng tiền trong dân cư vào các hệ sinh thái sản xuất kinh doanh. Đây được xem là mô hình phù hợp với quá trình hình thành các tập đoàn kinh tế lớn tại Việt Nam.

Từ những thực tế trên, yêu cầu phát triển thị trường vốn trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết. Thông tin trên TTXVN, PGS.TS. Nguyễn Hữu Huân, Phó Chủ tịch cơ quan điều hành Trung tâm Tài chính quốc tế Việt Nam tại TP. Hồ Chí Minh (VIFC-HCMC) về dài hạn, Việt Nam cần từng bước chuyển sang cấu trúc tài chính cân bằng hơn; trong đó thị trường vốn và các dòng vốn quốc tế đóng vai trò ngày càng lớn.

“Chỉ khi các kênh dẫn vốn được đa dạng hóa và vận hành hiệu quả, nền kinh tế mới có đủ nguồn lực để tài trợ cho các dự án lớn, dài hạn và có tính lan tỏa cao”, ông Huân nhấn mạnh.

Đánh giá về thị trường trái phiếu doanh nghiệp, ông Nguyễn Quang Thuân, Chủ tịch FiinGroup, cho rằng điểm nghẽn lớn nhất hiện nay nằm ở phía cầu. Lực cầu từ các nhà đầu tư tổ chức trong nước và quốc tế vẫn còn hạn chế. Đặc biệt, các định chế tài chính nước ngoài gần như chưa tham gia vào thị trường trái phiếu doanh nghiệp Việt Nam.

“Trong khi đó, tại các quốc gia trong khu vực, tỷ lệ nắm giữ của nhà đầu tư nước ngoài cao hơn nhiều, như Trung Quốc khoảng 6%, Hàn Quốc 21% và Indonesia 14%. Điều này cho thấy Việt Nam vẫn còn dư địa lớn để phát triển thị trường trái phiếu doanh nghiệp”, ông Thuân nói.

Ở phía cung, thị trường cũng đã xuất hiện những tín hiệu tích cực khi các quy định pháp lý mới được ban hành nhằm chuẩn hóa điều kiện phát hành, tăng yêu cầu minh bạch tài chính và xếp hạng tín nhiệm. Tuy vậy, quy mô phát hành của khối doanh nghiệp phi ngân hàng vẫn còn khá nhỏ so với nhu cầu vốn thực tế của nền kinh tế.

Theo ông Thuân, vấn đề không nằm ở chỗ thiếu vốn cho tăng trưởng, mà ở việc sử dụng vốn sao cho hiệu quả và phù hợp với kỳ hạn của từng dự án. Về lâu dài, nếu doanh nghiệp Việt Nam đạt được xếp hạng tín nhiệm cao, họ hoàn toàn có khả năng huy động vốn quốc tế với chi phí thấp hơn.